Nguồn kiến thức tổng hợp

Thứ Sáu, 31 tháng 5, 2013

Israel phát triển công nghệ giúp người khiếm thị

@NguonTinViet.Com


Một nhóm nhà khoa học Israel thuộc trường Đại học Bar-Ilan đã phát triển công nghệ có thể giúp người khiếm thị bẩm sinh có thể nhìn thấy được, với sự trợ giúp của một kính áp tròng sinh học điện tử.


Công nghệ này bao gồm một camera nhận thông tin thị giác từ môi trường và truyền tín hiệu vào một kính áp tròng sinh học điện tử. Thấu kính này truyền tín hiệu qua các điện cực vào giác mạc, từ đó tới các khu vực giác quan của não bộ, kích thích mô phỏng thông tin thị giác. Các thấu kính sinh học kích thích các dây thần kinh giác mạc ở phần ngoài của mắt, rồi được kết nối với khu vực xử lý thông tin giác quan của não bộ.


Một chiếc camera nhỏ xíu, có bộ cảm biến hình ảnh và một bộ khuyếch đại tín hiệu điện tử đặt bên ngoài cơ thể bệnh nhân, có thể được gắn vào kính đeo mắt hoặc một thiết bị di động. Các nhà khoa học sử dụng kỹ thuật siêu phân giải để mã hóa hình ảnh nhiều điểm ảnh rồi nén thành vài điểm ảnh.


Israel phát triển công nghệ giúp người khiếm thị


Giáo sư Zeev Zalevsky, trưởng nhóm nghiên cứu, giải thích việc mã hóa giúp nén các hình ảnh thị giác, giảm số điểm ảnh nhưng cho phép truyền thông tin thị giác tương tự như thị lực của một người khỏe mạnh.


Sau khi được khuyếch đại điện tử, thông tin nén được truyền đi bằng công nghệ không dây từ camera sang kính áp tròng sinh học trong mắt. Thấu kính này sẽ có khoảng 10.000 điện cực nhỏ giúp mô phỏng giác mạc. Sự kích thích được truyền từ giác mạc qua hệ thần kinh sang các khu vực não bộ xử lý thông tin thị giác. Theo cách này, thậm chí người khiếm thị bẩm sinh cũng có thể nhìn được.


Giáo sư Zeev Zalevsky khẳng định, công nghệ này đem lại rất nhiều lợi ích cho nhân loại, đặc biệt là đem lại ánh sáng cho người mù bẩm sinh mà không cần phẫu thuật hay làm tổn thương các giác quan và cơ quan trọng yếu của cơ thể.


Hiện công nghệ này vẫn chưa được thử nghiệm lâm sàng, song trong vài tháng qua, tính khả thi của hệ thống đã được thử nghiệm, giúp người thử nghiệm nhìn được một phần màu đen, trắng và xám với độ phân giải dưới 100 điểm ảnh.


Theo Giáo sư Zalevsky, những thấu kính thực sẽ bao gồm 10.000 điện cực giúp tiếp nhận hình ảnh thị giác có độ phân giải cao hơn và có thể cả màu sắc trong tương lai.







via khoahoc.com.vn - Đời sống - Y học - Cuộc sống - Rss - Các bài viết mới nhất http://www.khoahoc.com.vn/doisong/yhoc/suc-khoe/46823_Israel-phat-trien-cong-nghe-giup-nguoi-khiem-thi.aspx
Share:

Thứ Năm, 30 tháng 5, 2013

Lần đầu giải mã được cấu trúc bên trong virus HIV

@NguonTinViet.Com


Các nhà khoa học lần đầu tiên đã giải mã được cấu trúc phức tạp của lớp vỏ protein (capsid) bên trong virus HIV. Họ cũng đã tìm ra cách các thành phần của lớp vỏ này kết dính với nhau chính xác như thế nào ở cấp độ nguyên tử.


Cho tới gần đây, chúng ta đã biết rằng, capsid là một lớp vỏ hình nón tọa lạc bên trong màng phía ngoài của virus HIV. Cấu tạo của capsid bao gồm các tiểu đơn vị protein kết dính theo dạng lưới.


Lần đầu giải mã được cấu trúc bên trong virus HIV

Virus HIV đang tẩu thoát khỏi 1 tế bào bạch cầu. (Ảnh: SPL)


Do cấu trúc trên khá lớn, lại không đối xứng và không đồng bộ nên các kỹ thuật phổ biến nhằm giải mã cấu trúc này đã thất bại. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu đến từ Đại học Pittsburgh đã tạo nên kỳ tích khi sử dụng những kỹ thuật quét ảnh tân tiến và một siêu máy tính để tính toán ra cách 1.300 protein kết nối với nhau như thế nào để hình thành lớp vỏ capsid hình nón.


Theo báo cáo nghiên cứu đăng tải trên tạp chí Nature, chính các tương tác trọng yếu, mới được phát hiện giữa các phân tử đã giúp tạo nên sự kết dính và ổn định của lớp vỏ bảo vệ capsid. Nhóm nghiên cứu nhận định, khám phá của họ có thể được sử dụng để bào chế các loại dược phẩm mới, tấn công vào những liên kết then chốt này để chống lại khả năng kháng thuốc của HIV.


Tiến sĩ Peijun Zhang, giáo sư chuyên ngành sinh học cấu trúc thuộc Trường Y, Đại học Pittsburgh và là người đứng đầu nghiên cứu, nhấn mạnh: "Capsid vô cùng quan trọng đối với sự sinh sôi nảy nở của HIV, vì vậy, hiểu rõ cấu trúc chi tiết của nó có thể giúp chúng ta tạo ra được những dược phẩm mới, có khả năng chữa trị hoặc ngăn chặn lây nhiễm HIV".


Lần đầu giải mã được cấu trúc bên trong virus HIV

Hình mô phỏng của máy tính về vị trí (trái) và cấu trúc phức tạp của lớp vỏ capsid bên trong virus HIV.


Giáo sư Zhang giải thích thêm rằng, lớp vỏ capsid luôn phải duy trì trạng thái nguyên vẹn để bảo vệ bộ gene của HIV và đưa nó thâm nhập vào tế bào của con người. Dẫu vậy, một khi lọt vào được bên trong tế bào của con người, capsid sẽ phân chia để giải phóng các thành phần, giúp virus tái tạo. Các loại thuốc vô hiệu hóa capsid bằng cách ngăn chặn nó tổ hợp hoặc phân tách có thể ngăn chặn virus HIV gia tăng số lượng trong cơ thể bệnh nhân.


Tốc độ biến đổi nhanh chóng của HIV đã khiến khả năng kháng thuốc của virus trở thành một vấn đề lớn. Bà Zhang cho rằng, công trình nghiên cứu của bà cùng các cộng sự mở ra triển vọng về một phương pháp chữa trị thay thế mạnh mẽ cho các liệu pháp điều trị HIV phổ biến hiện nay, vốn hoạt động nhờ tấn công những enzym nhất định.







via khoahoc.com.vn - Đời sống - Y học - Cuộc sống - Rss - Các bài viết mới nhất http://www.khoahoc.com.vn/doisong/yhoc/suc-khoe/46800_Lan-dau-giai-ma-duoc-cau-truc-ben-trong-virus-HIV.aspx
Share:

Phát hiện loài sên đỏ như máu ở Australia

@

Các nhà khoa học đã phát hiện loài sên hồng khổng lồ và ốc sên ăn thịt tại một khu vực hẻo lánh ở Australia.


Cả hai loài sên hồng khổng lồ và ốc sên ăn thịt được phát hiện sống tại khu vực núi Kaputar gần thành phố Narrabri thuộc bang New South Wales của Australia. Loài sên hồng có chiều dài lên tới 20cm, trong khi, ốc sên ăn thịt tấn công những con mồi ăn thực vật.




Loài sên hồng khổng lồ Triboniophorus graeffi.


Những người dân địa phương từ lâu đã thấy sên hồng đặc biệt sau những trận mưa lớn, nhưng các nhà phân loại học gần đây mới xác nhận loài động vật này cùng loài với loài sên tam giác đỏ, có tên khoa học là Triboniophorus graeffi.


Loài sên hồng ở xuất hiện từ thời kỳ siêu lục địa Gondwana chưa phân tách cách đây 180 triệu năm. Chúng chỉ sống trên khu vực đỉnh núi Kaputar. Một số loài sên cùng họ với chúng cũng được tìm thấy ở New Zealand và Nam Phi.


Loài sên hồng, thường trốn dưới lớp lá dưới đất trong thời gian ban ngày, nhưng thỉnh thoảng vào buổi tối chúng thường xuất hiện thành đàn hàng trăm con để ăn đất và rêu trên thân cây. Trong khi đó, loài ốc ăn thịt cũng được cho là chỉ sống tại khu vực núi Kaputar và chỉ ăn thịt những loài ốc sên khác trong vùng.


Phát hiện loài sên đỏ như máu ở Australia

Ốc sên ăn thịt ở vùng núi Kaputar của Australia.


Cả hai loài sên hồng khổng lồốc sên ăn thịt được cho là có nguồn gốc ở phía đông Australia từng được bao phủ phần lớn bởi các khu rừng nhiệt đới. Sau khi một núi lửa phun trào cách đây khoảng 17 triệu năm, khu vực này trở nên khô cằn chỉ còn lại một số vùng nhỏ có điều kiện giống rừng nhiệt đới. Đây là những khu vực loài động vật không xương sống có thể tồn tại.


Bởi vì sên hồng và ốc sên ăn thịt là những động vật hiếm và đặc trưng của vùng núi Kaputar, nên ủy ban khoa học bang New South Wales gần đây đã quyết định đưa khu vực này vào danh sách “cộng đồng sinh thái bị nguy hiểm”.


%3Cbr%3E%3Cbr%3Evia%20khoahoc.com.vn - Khám phá - Thế giới động vật - Rss - Các bài viết mới nhất%20http://www.khoahoc.com.vn/khampha/the-gioi-dong-vat/46793_Phat-hien-loai-sen-do-nhu-mau-o-Australia.aspx">
Share:

Thứ Tư, 29 tháng 5, 2013

Phát triển bộ dụng cụ xét nghiệm nhanh virus H7N9

@NguonTinViet.Com


Các nhà khoa học Australia đã phát triển thành công một bộ dụng cụ xét nghiệm phát hiện nhanh virus cúm H7N9 ở gia cầm và sẽ xuất khẩu bộ dụng cụ xét nghiệm đặc biệt này sang châu Á.


Phát triển bộ dụng cụ xét nghiệm nhanh virus H7N9

Ảnh minh họa: CRIonline


Tiến sỹ Kurt Zuelke, Giám đốc Phòng thí nghiệm thú y thuộc Viện nghiên cứu khoa học hàng đầu Australia CSIRO, cho biết bộ dụng cụ xét nghiệm sẽ cho kết quả nhanh chóng với quy trình thực hiện hết sức đơn giản. Theo đó chỉ cần trộn mẫu máu gia cầm với chất phản ứng, bộ dụng cụ sẽ nhận dạng virus H7N9 dựa vào các chuỗi gene đặc trưng được phát hiện.


Bộ dụng cụ xét nghiệm gồm 8.000 mẫu thử sẽ được xuất sang các nước như Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Campuchia, Lào, Myanmar, Malaysia, Philippines, Bangladesh.


Kể từ khi phát hiện virus cúm gia cầm H7N9 hồi tháng Hai vừa qua, đến nay Trung Quốc đã xác nhận 130 trường hợp nhiễm cúm, trong đó 37 bệnh nhân đã tử vong. Chưa phát hiện trường hợp nào lây từ người sang người.







via khoahoc.com.vn - Đời sống - Y học - Cuộc sống - Rss - Các bài viết mới nhất http://www.khoahoc.com.vn/doisong/yhoc/dich-cum/46767_Phat-trien-bo-dung-cu-xet-nghiem-nhanh-virus-H7N9.aspx
Share:

Thứ Ba, 28 tháng 5, 2013

Singapore điều tra loạn trí và trầm cảm ở người già

@NguonTinViet.Com


Đại học Quốc gia Singapore (NUS) vừa tiến hành một cuộc nghiên cứu kéo dài 10 năm về chứng trầm cảm và mất trí để tìm hiểu xem liệu việc sống cô độc có làm tăng nguy cơ mắc các chứng bệnh đó ở người già hay không.


Tỷ lệ người già tự tử tại Singapore là khá cao.

Tỷ lệ người già tự tử tại Singapore là khá cao. (Ảnh minh họa. Nguồn: Strait Times)


Đây là nghiên cứu đầu tiên về chủ đề này được thực hiện tại châu Á.


Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng nhằm mục đích tìm ra các biện pháp bảo vệ bộ não khỏi những căn bệnh này.


Ban đầu, khoảng 108 người già sống ở khu vực Jurong và Bukit Merah sẽ tham gia một chương trình kéo dài 10 tuần để xem các hoạt động như tập thái cực quyền hay nghệ thuật có giảm bớt được những triệu chứng gây trầm cảm hay không.


Sau đó, dự án sẽ được mở rộng trên toàn bộ lãnh thổ Singapore.


Đến nay, sáng kiến trên được đã nhận được 1,8 triệu SGD tiền quyên góp từ chùa Kwan Im Thong Hood Cho.


Theo NUS, hiện nay tỷ lệ người cao tuổi tự tử tại Singapore là tương đối cao, khoảng 24 trường hợp trong 100.000 người, so với chỉ 12 trường hợp trên 100.000 dân bình thường.







via khoahoc.com.vn - Đời sống - Y học - Cuộc sống - Rss - Các bài viết mới nhất http://www.khoahoc.com.vn/doisong/yhoc/suc-khoe/46759_Singapore-dieu-tra-loan-tri-va-tram-cam-o-nguoi-gia.aspx
Share:

Trung Quốc: Virus cúm H7N9 dễ tấn công người già

@NguonTinViet.Com


Tân Hoa xã đưa tin Trung Quốc ngày 28/5 đã công bố một thành quả nghiên cứu khoa học mới nhất của 30 chuyên gia nghiên cứu khoa học y tế đến từ 7 tỉnh thành của Trung Quốc.


Kết quả nghiên cứu này được đăng trên trang mạng của Tạp chí y học New England.


Trung Quốc: Virus cúm H7N9 dễ tấn công người già

Người dân đeo khẩu trang phòng cúm trên đường phố Thượng Hải. (Nguồn: AFP)


Kết quả nghiên cứu cho thấy virus cúm H7N9 dường như rất dễ tấn công người già. Trong số 111 người bệnh đến từ 7 tỉnh, thành là Chiết Giang, Thượng Hải, Giang Tô, Hà Nam… được nghiên cứu thì tuổi đời bình quân của người bệnh là 61, trong đó số người bệnh từ 65 tuổi trở lên chiếm 42,3% tổng số người bệnh, người lớn tuổi nhất là 88.


Theo bác sỹ Cao Hải Nữ - thành viên trong nhóm nghiên cứu, ngoài các triệu chứng rõ rệt như sốt, ho, gây đờm, thở gấp, đa số các bệnh nhân H7N9 còn dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng khác.


Cũng theo kết quả nghiên cứu, tỷ lệ nhiễm virus H7N9 ở nam cao hơn gấp hai lần so với nữ. Tuy nhiên, bà Lý Lan Quyên - Viện sỹ Viện công trình Trung Quốc, người phụ trách dự án nghiên cứu cho biết đến nay vẫn chưa thể khẳng định tỷ lệ chênh lệch này có phải do gen hay không và vấn đề này cần tiếp tục được đi sâu nghiên cứu.


Virus cúm H7N9 được phát hiện lần đầu tiên tại Trung Quốc hồi tháng Ba năm nay. Theo số liệu báo cáo của Ủy ban Y tế và Sinh đẻ kế hoạch Trung Quốc, tính đến nay, toàn Trung Quốc đã có 131 trường hợp nhiễm H7N9, trong đó 37 trường hợp đã tử vong, 76 trường hợp hồi phục hoàn toàn.







via khoahoc.com.vn - Đời sống - Y học - Cuộc sống - Rss - Các bài viết mới nhất http://www.khoahoc.com.vn/doisong/yhoc/dich-cum/46760_Trung-Quoc-Virus-cum-H7N9-de-tan-cong-nguoi-gia.aspx
Share:

Hệ miễn dịch kì lạ trên chất nhầy của con người và động vật

@NguonTinViet.Com


Trong cơ thể chúng ta, chức năng chính của chất nhầy là một lớp bảo vệ giữ cho các mô bên dưới luôn ẩm ướt và ngăn chặn các vi khuẩn và vi sinh vật bên ngoài xâm nhập.



Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu tại đại học San Diago (SDSU) đã vừa phát hiện ra rằng bề mặt của chất nhầy cũng chính là một hệ miễn dịch độc lập, bảo vệ chủ động cho cơ thể chúng ta khỏi các tổ chức lây nhiễm trong môi trường.


Chất nhầy được tạo ra bởi các mô lót giữa các mặt trong của những bộ phận như miệng, mũi, xoang, họng, phổi và dạ dày, ruột. Lớp chất nhầy từ lâu được xem như một bức tường bảo vệ thụ động cho cơ thể trước những nguy cơ lây nhiễm từ môi trường bên ngoài.


Phát hiện hệ miễn dịch kì lạ trên chất nhầy của con người và động vật

Thực khuẩn thể đang tấn công một vi khuẩn gây bệnh.


Khi lấy mẫu chất nhầy từ động vật và người, nhóm nghiên cứu tại SDSU dẫn đầu bởi tiến sĩ sinh học Jeremy Barr đã phát hiện ra các thực khuẩn thể (còn gọi là virus "ăn" vi khuẩn - bacteriophage) trên bề mặt lớp chất nhầy. Họ tiến hành đặt các thực khuẩn thể lên trên một lớp mô tạo chất nhầy và nhận thấy rằng khi tiếp xúc với bề mặt chất nhầy, thực khuẩn thể tự động liên kết với các phân tử đường khiến nó bám dính vào bề mặt.


Tiếp theo, nhóm nghiên cứu cho các thực khuẩn thể tiếp xúc với vi khuẩn E. coli. Kết quả là ngay khi nhận ra sự có mặt của E. coli, thực khuẩn thể lập tức tấn công và tiêu diệt chúng ngay trong chất nhầy, hình thành một rào cản chống vi khuẩn hiệu quả trên cơ thể vật chủ, bảo vệ cơ thể khỏi các nguy cơ lây nhiễm và mầm bệnh.


Hệ miễn dịch kì lạ trên chất nhầy của con người và động vật


Để xác nhận khám phá của mình, nhóm nghiên cứu cũng thực hiện một thí nghiệm song song đó là cho 2 mẫu tế bào - 1 có chất nhầy chứa thực khuẩn thể và 1 không có chất nhầy. Cả 2 đều cho thử thách với vi khuẩn E. coli và kết quả là mẫu tế bào không có chất nhầy có số lượng tế bào chết nhiều hơn gấp 3 lần so với mẫu còn lại.


Theo Barr, điều khiến phát hiện trên gây bất ngờ là do thực khuẩn thể đã có mặt từ lâu trên con người và động vật. Cơ thể con người và động vật kết nạp nhiều loại thực khuẩn thể từ môi trường. Chúng tự động bám vào các lớp chất nhầy có trên nhiều bộ phận của cơ thể bao gồm miệng và ruột. Thực khuẩn thể sau đó trở thành một "đội quân" bảo vệ cho vật chủ, tự động tích lũy và tấn công những kẻ lạ mặt.


Phát hiện hệ miễn dịch kì lạ trên chất nhầy của con người và động vật

Tiến sĩ Jeremy Barr


"Phát hiện này không chỉ chỉ ra một hệ miễn dịch mới mà còn chứng minh mối quan hệ cộng sinh đầu tiên giữa các thể thực khuẩn và động vật. Từ đây, nó sẽ tác động quan trọng đến nhiều lĩnh vực", Barr nói.







via khoahoc.com.vn - Đời sống - Y học - Cuộc sống - Rss - Các bài viết mới nhất http://www.khoahoc.com.vn/doisong/yhoc/suc-khoe/46758_He-mien-dich-ki-la-tren-chat-nhay-cua-con-nguoi-va-dong-vat.aspx
Share:

Người mẹ phải cách ly con vì phát ra phóng xạ

@NguonTinViet.Com


Một người mẹ Anh từng phải sống cách ly và hiện không được phép chạm vào các con của mình vì việc điều trị ung thư tuyến giáp đã khiến cô phát xạ.


Emma Day, 27 tuổi đã được chỉ định dùng iốt phóng xạ liều cao để chống lại căn bệnh ung thư tuyến giáp. Điều này đồng nghĩa với việc, cô đã bị cách ly trong thời gian điều trị nội trú tại bệnh viện. Các nhân viên y tế bị cấm tới gần cô trong vòng 3 mét suốt 5 ngày.


Người mẹ phải cách ly con vì phát ra phóng xạ

Emma Day hiện luôn phải giữ khoảng cách an toàn với các con. (Ảnh: Daily Mail)


Tuy nhiên, theo Emma, mọi thứ thậm chí trở nên khó chịu hơn kể từ khi cô được phép trở về nhà. Cô phải tránh xa đứa con gái lớn 6 tuổi và 2 con gái sinh đôi 1 tuổi thêm 3 tuần nữa, do việc tiếp xúc cơ thể có thể gây ra những tổn thương vĩnh viễn đối với chúng.


"Điều này rất khó vì 2 đứa con gái sinh đôi của tôi còn quá nhỏ để hiểu chuỵện. Con gái lớn của tôi đã được một nhà tâm lý học ung thư giải thích rằng, việc điều trị của tôi là rất cần thiết và con bé hiểu quá trình đó sẽ khiến tôi khá hơn", Emma nói.


Bà mẹ 3 con này cho biết thêm rằng, cô đã cho hai con gái sinh đôi bú khoảng 5 tháng sau sinh nên việc không quen với việc phải xa chúng. Hiện tại cô không thể ôm hôn bất kỳ ai và luôn phải chú ý giữ khoảng cách an toàn với lũ trẻ khi di chuyển trong nhà.


Đây là cuộc chiến thứ hai chống lại căn bệnh ung thư của Emma. Cô từng vượt qua căn bệnh bạch cầu khi còn nhỏ.


Người mẹ phải cách ly con vì phát ra phóng xạ

Emma cùng chồng vào 3 con trước khi bị phát hiện mắc bệnh ung thư tuyến giáp. (Ảnh: Daily Mail)


Emma bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư tuyến giáp hồi tháng 1 sau khi thăm khám bác sĩ vì một cục bướu trong cổ họng. Sau khi trải qua phẫu thuật cắt bỏ 1/2 khối u, cô phải thực hiện liệu trình điều trị bằng iốt phóng xạ. Quá trình điều trị này bao gồm cả việc uống thuốc chứa nguyên tố phóng xạ iốt 131, để nó lưu thông khắp cơ thể bằng đường máu.


Các tế bào ung thư tuyến giáp luôn hấp thu iốt dù ở bất kỳ đâu trong cơ thể và phóng xạ sẽ tiêu diệt chúng. Các tế bào khác sẽ không bị ảnh hưởng gì vì chỉ có tế bào tuyến giáp hấp thu iốt.


Việc điều trị khiến Emma luôn ở trạng thái phát xạ cao đến mức bất cứ thứ gì cô chạm vào trong bệnh viện bị vứt bỏ ngay lập tức. Mặc dù liệu pháp điều trị mạnh cũng nguy hiểm đối với bệnh nhân nhưng nguy cơ ung thư được cho là lớn hơn nhiều.


Emma thổ lộ, chính ý nghĩ rằng cô sẽ lại được ôm các con trong vòng tay là động lực giúp cô can đảm tiếp tục quá trình đấu tranh chống bệnh tật.







via khoahoc.com.vn - Đời sống - Y học - Cuộc sống - Rss - Các bài viết mới nhất http://www.khoahoc.com.vn/doisong/yhoc/suc-khoe/46754_Nguoi-me-phai-cach-ly-con-vi-phat-ra-phong-xa.aspx
Share:

Giải mã bí ẩn việc quên ký ức tuổi thơ

@NguonTinViet.Com


Các nhà khoa học đã tìm ra bí ẩn đằng sau tình trạng ký ức tuổi thơ bị xóa sổ ở con người.


Đó là câu hỏi làm giới khoa học gia và các nhà tâm lý học đau đầu lâu nay: tại sao con người có thể quên đi những ngày tháng thời thơ ấu, thời gian lẽ ra là vô lo và vui vẻ nhất trong cả cuộc đời?


Giải mã bí ẩn việc quên ký ức tuổi thơ


Mới đây, hai nhà khoa học Paul Frankland và Sheena Josselyn của Đại học Toronto (Canada) cho rằng họ đã tìm ra cách giải thích hiện tượng kỳ lạ này, vốn được nhà phân tâm học người Áo Sigmund Freud đặt tên là chứng quên tuổi thơ, đồng thời cũng phát hiện rằng chúng ta sẽ chẳng bao giờ lấy lại được những ký ức tươi đẹp đó.


Theo tờ Deccan Herald dẫn lời các chuyên gia, sự tăng trưởng nhanh chóng của các tế bào trong trung khu trí nhớ của não trong những năm đầu đời đồng nghĩa với việc những kết nối chủ chốt giữa các tế bào đang tồn tại đã bị phá vỡ.


Hậu quả là ký ức được lưu trữ ở đó không cách nào khôi phục được.


Đó là lý do tại sao trẻ con chỉ có thể nhớ được một sự kiện như tiệc sinh nhật trong vòng vài tuần hoặc vài tháng trước khi quên sạch.


Các nghiên cứu trước đó cũng phát hiện chúng ta không thể nào nhớ lại những sự kiện diễn ra trước năm 2 hoặc 3 tuổi, và chỉ lưu giữ được những ký ức đứt đoạn từ 3 đến 7 tuổi.







via khoahoc.com.vn - Đời sống - Y học - Cuộc sống - Rss - Các bài viết mới nhất http://www.khoahoc.com.vn/doisong/yhoc/suc-khoe/46743_Giai-ma-bi-an-viec-quen-ky-uc-tuoi-tho.aspx
Share:

Nghe "xác chết di động" kể chuyện

@NguonTinViet.Com


Một bệnh nhân người Anh đã ghi lại khoảng thời gian kinh hoàng khi ông mắc hội chứng "xác di động" và việc ông đã sống ở nghĩa địa như thế nào để "có thể gần cái chết nhất".


Theo người đàn ông tự nhận là Graham, một ngày cách đây 9 năm, ông tỉnh dậy và khăng khăng rằng mình không còn sống nữa dù vẫn đang thở. Các bác sĩ chẩn đoán ông mắc hội chứng Cotard, hay còn gọi nôm na là "hội chứng xác di động" vì nó khiến người mắc phải tin họ đã biến thành thây ma sống.


Tuy nhiên, Graham không tin lời các bác sĩ. Ông quả quyết, bộ não của mình đã chết.


Nghe "xác chết di động" kể chuyện

Căn bệnh lạ xuất hiện sau trầm cảm khiến Graham khăng khăng rằng ông đã chết dù vẫn còn thở. (Ảnh minh họa: Corbis)


Căn bệnh lạ xuất hiện sau khi Graham, người bị trầm cảm nặng, từng cố gắng tự tử bằng cách giật điện bản thân trong bồn tắm. 8 tháng sau, ông tuyên bố với các bác sĩ rằng, bộ não của ông đã chết hoặc ít nhất đã bị mất tích.


Tiếp đó, Graham không còn thích hút thuốc, ngừng trò chuyện và từ chối ăn vì "việc đó trở nên vô nghĩa khi tôi đã chết".


Trong một nỗ lực cuối cùng, mọi người đã đưa ông tới gặp hai chuyên gia thần kinh Adam Zeman thuộc Đại học Exeter (Anh) và Steven Laureys đến từ Đại học Liège (Bỉ). Tại thời điểm này, gia đình luôn phải giám sát Graham vì căn bệnh của ông trầm trọng tới mức ông mất hết khả năng khứu giác, vị giác, câm lặng và không ăn uống.


Các kết quả quét não hé lộ, mức độ hoạt động của một số vùng não bộ của Graham vô cùng thấp và chậm tới mức tương tự ở những người sống thực vật.


Chỉ thông qua điều trị bằng thuốc và liệu pháp chữa trị tâm lý trong nhiều tháng trời, Graham mới vượt qua tình trạng bệnh và bắt đầu sống bình thường trở lại.


Theo các chuyên gia, hội chứng Cotard nằm trong số các căn bệnh hiếm gặp nhất trên thế giới và được cho là chỉ "tấn công" khoảng vài trăm người cùng lúc. Hội chứng "xác di động" này có liên quan tới bệnh trầm cảm và xuất hiện ở nhiều dạng khác nhau, kể cả ở những người tin rằng các chi của họ không còn hoạt động nữa hoặc bị tê liệt hoàn toàn.







via khoahoc.com.vn - Đời sống - Y học - Cuộc sống - Rss - Các bài viết mới nhất http://www.khoahoc.com.vn/doisong/yhoc/suc-khoe/46733_Nghe-xac-chet-di-dong-ke-chuyen.aspx
Share:

Bí ẩn bao trùm các thảm họa tàu ngầm Pháp


Cái "chết" hay đúng hơn là sự biến mất đột ngột của tàu ngầm Eridis thuộc hạm đội của Pháp vào sáng sớm ngày 4/3/1970 từng dấy lên những tranh cãi nảy lửa khắp thế giới. Bất chấp sự thật rằng người ta đã tìm thấy hiện trường sự cố gần như ngay lập tức, các chuyên gia vẫn mất gần 2 tháng mới tìm thấy xác tàu ngầm. Đây không phải là chi tiết bí ẩn duy nhất về thảm họa.


Nhìn chung, hiện chẳng có mấy thông tin về tàu ngầm Eridis của Pháp. Trong khi đó, đã có hàng chục cuốn sách và nhiều bộ phim tài liệu về cái "chết" của tàu ngầm Kursk của Nga. Một bộ phim tài liệu nổi tiếng về thảm họa tàu ngầm Kursk do nhà báo lừng danh Pháp Jean-Michel Carre thực hiện, đã lấy cảm hứng từ một bài báo đăng tải 3 năm sau sự cố.


Trong Liên hoan phim quốc tế về hàng hải và các cuộc thám hiểm biển có tên gọi "Đại Dương vẫy gọi" mới diễn ra ở St. Petersburg (Nga), phóng viên báo Pravda đã có cơ hội trò chuyện với cựu chỉ huy tàu ngầm hạt nhân thứ ba của Pháp - Thiếu tướng Hải quân Jean-Marie Mate. Vị tướng này không hé lộ thêm bất kỳ bí mật đặc biệt nào về tàu ngầm Eridis ngoài những chi tiết hạn hẹp bạn có thể tìm thấy công khai trên báo chí. Ông Jean-Marie Mate nhấn mạnh rằng, các thủy thủ tàu ngầm, dù có quốc tịch là gì, vẫn luôn là các anh hùng.


Tuy nhiên, một câu hỏi đặt ra là: Tại sao sự biến mất của tàu ngầm Eridis nhận được quá ít sự quan tâm của báo giới, trong sách vở và phim ảnh? Việc mất tích đột ngột của tàu ngầm này ở Địa Trung Hải từng gây rúng động thế giới... Cho tới hiện tại, đáp án cho câu trả lời trên vẫn là một bí ẩn.


Bí ẩn bao trùm các thảm họa tàu ngầm Pháp

Ảnh tư liệu về tàu ngầm Eridis của Pháp.


Phóng viên trang Pravda đã cố gắng thu thập manh mối của sự việc thông qua nỗ lực lục lọi lại hồ sơ lưu trữ của Nga, hay nói chính xác hơn là của Hải quân Xô viết - lực lượng cũng từng tham gia điều tra sự cố. Kết quả thu được như sau:


Tàu ngầm Eridis thuộc lớp tàu ngầm tuần tra điện - diesel Daphne. Đã có 11 chiếc tàu ngầm dạng này được chế tạo tại Pháp, cho Hải quân Pháp và tất cả chúng đều được đặt tên theo các nữ thần trong thần thoại. Lực lượng hải quân của các nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Nam Phi và Pakistan cũng từng đặt hàng Pháp đóng những chiếc tàu ngầm như vậy.


Một chiếc tàu lớp Daphne có chiều dài khoảng 58 mét và được trang bị 12 ống phóng ngư lôi, nhiều hơn một chút so với bất kỳ tàu ngầm cùng loại nào của Nga.


Theo dữ liệu có thể tìm thấy trong các nguồn lưu trữ của Nga, việc chế tạo tàu ngầm S-644 Eridis bắt đầu từ tháng 7/1958 tại xưởng đóng tàu hải quân Direction des Constructions et Armes Navales ở Cherbourg. Tàu ngầm này được hạ thủy lần đầu tiên vào ngày 19/6/1960 và đến ngày 26/9/1964 chính thức làm nhiệm vụ cho Hải quân Pháp. Cũng như các tàu ngầm khác thuộc hạm đội Pháp, nhiệm vụ chính của Eridis là phục vụ huấn luyện chiến đấu cho thủy thủ đoàn, tuần tra bờ biển phía bắc Pháp và Bắc Phi cũng như hộ tống tàu bè dân sự chuyên chở hàng hóa quan trọng. Tàu Eridis chưa từng di chuyển ra bên ngoài vùng nước Đại Tây Dương.


Sáng sớm ngày 4/3/1970, tàu Eridis rời căn cứ Saint-Trope, với 57 người trên boong. Khi ra khơi, tàu ngầm này có nhiệm vụ phối hợp với hàng không để luyện tập tìm kiếm và tấn công một tàu ngầm giả định của kẻ thù. Với mục đích này, tàu Eridis luôn giữ liên lạc với máy bay tuần tra Atlantic cất cánh từ căn cứ hải quân Nimes-Garon. Biển ban đầu tương đối tĩnh lặng. Các phi công từ trên cao vẫn nhìn thấy ống kính tiềm vọng nhô lên của Eridis khi tàu ngầm này còn cách phía đông nam Mũi Camara gần 11,3km, liên lạc có vẻ bình thường. Đột nhiên, đến 7h13 sáng (theo giờ địa phương), bên phối hợp tác chiến ngưng nhận được các thông điệp từ tàu Eridis. Máy bay Atlantic mất liên lạc tín hiệu radar với tàu ngầm ...


Trong thông điệp radio cuối cùng, chỉ huy tàu Eridis nói ông đang tới khu vực luyện tập và chuẩn bị cho tàu lặn. Gần như ngay khi mất liên lạc, máy bay và tàu chống tàu ngầm của hải quân bắt đầu tìm kiếm tàu ngầm mất tích. Hải quân Pháp đã huy động mọi vật lực có thể vào cuộc, từ 8 tàu nổi trên mặt nước, 6 tàu quét thủy lôi, các tàu ngầm lớp Daphne và Doris tới các máy bay và trực thăng. Người Mỹ và Italia cũng tham gia quá trình tìm kiếm bằng cách cử 4 tàu dò thủy lôi và tàu cứu hộ Skylark.


Khu vực biến mất của tàu Eridis cũng như nơi máy bay tuần tra Atlantic lần cuối nhìn thấy tàu Eridis được xác định nhanh chóng. Không lâu sau đó, người ta đã tìm thấy một lượng lớn nhiên liệu diesel, một mảnh gỗ dán và một tấm các đục lỗ có tên Eridis. Phần còn lại của chiếc tàu ngầm chứng minh nó đã bị chìm.


Các chuyên gia bắt đầu điều tra sự mất tích của Eridis. Họ đã phân tích các mẫu nhiên liệu diesel trên mặt nước cũng được phát hiện sau đó. Kết quả phân tích cho thấy, số nhiên liệu này chứa hàm lượng lưu huỳnh cao - đặc điểm nhiên liệu của tàu Eridis.


4 ngày sau khi quá trình tìm kiếm bắt đầu, lãnh đạo lực lượng Hải quân Pháp tuyên bố tàu Eridis cùng toàn bộ 57 thành viên thủy thủ đoàn đã tử nạn. Mọi lực lượng tham gia tìm kiếm và tất cả các tàu thuộc hạm đội Pháp đã tiến hành nghi lễ tưởng niệm các nạn nhân xấu số.


Bí ẩn bao trùm các thảm họa tàu ngầm Pháp

Phần còn lại của xác tàu Eridis dưới đáy Đại Tây Dương.


Một thời gian sau, thông qua phân tích dữ liệu của các địa chấn kế trong những phòng thí nghiệm khảo sát ven biển, người ta phát hiện đã có một vụ nổ xảy ra vào ngày 4/3/1970, lúc 7h28. Nơi xảy ra thảm kịch nhanh chóng được phát hiện. Tuy nhiên, các chuyên gia phải mất rất nhiều thời gian mới tìm thấy xác tàu ngầm Eridis.


Họ hàng của các thủy thủ tử nạn yêu cầu nhà chức trách phải tìm thấy xác tàu ngầm bằng mọi giá cũng như xác định nguyên nhân thảm họa. Chính phủ Pháp đã yêu cầu Mỹ hỗ trợ tìm kiếm và phải hơn 1,5 tháng sau, người Mỹ mới trục vớt được nhiều mảnh vỡ lớn của tàu Eridis ở độ sâu từ 600 - 1.000 mét so với mực nước biển.


Sau này, người ta đã tìm thấy một mảnh vỡ lớn của đuôi tàu Eridis nằm ở trung tâm một cái hố kỳ lạ, có đường kính 30 mét. Tất cả các mảnh kim loại của tàu bị vặn xoắn và biến dạng dị thường. Các tờ báo của châu Âu bắt đầu đặt ra nhiều nghi vấn. Lỗi thiết kế hay lỗi của thủy thủ đoàn? Có cả những đồn đoán về sự can thiệp của người ngoài hành tinh cũng rất thịnh hành thời điểm đó. Một số lại nhận định, tàu Eridis đã va chạm với một tàu buôn. Trong thực tế, các tàu thuyền chở hàng của Tunisia, Argentina và Hy Lạp thường xuyên qua lại khu vực xảy ra tai nạn.


Kết quả điều tra sự cố chưa bao giờ được công bố trước công luận. Cái "chết" của tàu Eridis từng làm chấn động toàn nước Pháp. Vài năm trước đó, 3 tàu ngầm của nước này từng lần lượt chìm cùng toàn bộ thủy thủ đoàn gần Toulon.


Nguyên nhân của các thảm họa trên vẫn còn là một bí ẩn. Liệu có khi nào tồn tại một mới ở Đại Tây Dương?


Ở Toulon, tại một trong những căn cứ chính của Hải quân Pháp, người ta đã dựng nên một đài tưởng niệm các thủy thủ tàu ngầm đã chết. Người Pháp vẫn đến đây để bày tỏ sự tưởng niệm đối với những người xấu số.







Đăng ký:
Share:

Thứ Hai, 27 tháng 5, 2013

Phát hiện nơi nấm có tính đa dạng lớn nhất trên da người

@NguonTinViet.Com


(Khoahoc.com.vn) - Trong khi loài người đã sử dụng sức mạnh của nấm men để lên men bánh mì và bia, chức năng của men và của các loại nấm khác sống trong và trên cơ thể con người vẫn chưa được hiểu rõ.



Trong nghiên cứu đầu tiên về tính đa dạng nấm trên da người, các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu Sức khỏe Quốc gia đã giải mã trình tự DNA của một loại nấm kí sinh trên da người khỏa mạnh, nhằm xác định các quần thể nấm thông thường trú ngụ trên da người và cung cấp các thông tin giúp nghiên cứu các điều kiện gây bệnh nấm da.


Bề mặt da người là hệ sinh thái phức tạp của các vi sinh vật, trong đó bao gồm nấm, vi khuẩn và các virus, được gọi chung là microbiome da (microbiome da được hiểu là toàn bộ hệ gene của các vi sinh vật sống trong và trên da). Mặc dù nhiễm trùng do nấm gây ảnh hưởng tới khoảng 29 triệu người tại Mỹ, nấm bị chậm và khó để nuôi cấy trong phòng thí nghiệm, chẩn đoán và điều trị phức tạp thậm chí những trường hợp nấm da phổ biến nhất, chẳng hạn như nhiễm trùng móng chân.


Nhóm nghiên cứu đến từ Viện nghiên cứu quốc gia về di truyền học người, và Viện nghiên cứu Ung thư quốc gia, cả hai thuộc NIH, đã mở rộng nghiên cứu trình tự bộ gene của vi khuẩn da gần đây của họ, sử dụng các kỹ thuật giải mã trình tự DNA được tối ưu hóa để xác định nấm. Nghiên cứu được công bố ngày 22/5/2013 trực tuyến trên tạp chí Nature.


Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng một loại nấm duy nhất, thuộc giống Malassezia, phổ biến trên đầu và thân. Tay người là nơi có sự đa dạng vi khuẩn lớn, là nơi cư trú của một số ít các loại nấm. Ngược lại thì bàn chân, bao gồm cả các móng chân, gót chân và mu bàn chân có sự đa dạng nấm rất lớn.


“Dùng trình tự DNA để nghiên cứu về nấm da là một phát triển tự nhiên để tìm hiểu về cuộc sống vi sinh cộng sinh trên cơ thể của chúng ta”, Giám đốc khoa học của NHGRI, bác sĩ y khoa, tiến sĩ Daniel Kastner nói. “Cùng với trình tự gene gần đây để xác định đa dạng vi sinh vật, phân tích về sự đa dạng của nấm này đưa ra một bức tranh toàn diện hơn về microbiome của con người”.


“Quần thể nấm cư trú ở các hốc phức tạp, thậm chí trên cơ thể con người”. Heidi Kong, bác sĩ y khoa, đồng tác giả cấp cao và là một điều tra viên trong ngành da liễu của Trung tâm Nghiên cứu ung thư của NCI cho biết. “Bằng cách nhận thức đầy đủ hơn về các hệ sinh thái vi khuẩn và nấm, chúng ta có thể điều trị các bệnh về da có liên quan đến nấm và vi khuẩn tốt hơn, trong đó gồm cả các tình trạng da có thể liên quan đến các liệu pháp điều trị ung thư”.


Phát hiện nơi nấm có tính đa dạng lớn nhất trên da người


Các nhà nghiên cứu đã lấy mẫu tại 14 vị khí khác nhau trên có thể của 10 người trưởng thành khỏe mạnh.Chuỗi DNA của nấm trong các mẫu đã được xác định phân đoạn DNA, được gọi là thang chuẩn phát sinh loài (phylogenetic marker), có thể được tính toán và sử dụng để phân biệt một loại nấm so với các loại nấm khác. Những nỗ lực sắp xếp đã tạo ra hơn 5 triệu thang chuẩn, từ các mẫu, đại diện cho hơn 80 loài nấm, hoặc chi. Ngược lại, các phương pháp nuôi cấy truyền thống đã tạo ra 130 khuẩn lạc của nấm chỉ đại diện cho 18 chi nấm.


Marker - là thang chuẩn, đây là tập hợp những đoạn DNA có kích thước xác định và biết trước và dùng làm thang chuẩn để ước lượng kích thước 1 đoạn nucleic acid nào đó trong kỹ thuật điện di.


Trong 20% những người tham gia nghiên cứu, các nhà nghiên cứu quan sát các vấn đề như những thay đổi về gót chân, ngón chân và móng chân có thể bị nhiễm nấm. Từ phân tích trình tự gene, nhóm nghiên cứu nhận thấy sự khác biệt các vật lây nhiễm gót chân giữa các cá nhân có cùng các quần thể nấm thông thường tại các vị trí đó, trong khi những người có bệnh nhiễm trùng móng chân cho thấy quần thể nấm rất khác biệt.


“Trình tự DNA cho thấy sự đa dạng rất lớn của nấm, mặc dù chúng khó phát triển trong nuôi cấy”, Julie Segre, tiến sĩ, đồng tác giả cấp cao và là điều tra viên cao cấp thuộc Chi nhánh Di truyền học và sinh học phân tử của NHGRI cho biết. “Trình tự DNA cho phép chúng tôi tìm hiểu thêm về các khu vực mà nấm chiếm ưu thế với tư cách là một phần của microbiome da người”.


Các nhà nghiên cứu đã xác định nấm từ hai giới, Ascomycetes và Basidiomycetes, là một phần của cuộc điều tra số lượng nấm thông thường tại 14 vị trí trên da. Chi phổ biến nhất Malassezia đã có mặt tại 11 trên 14 vị trí lấy mẫu trên cơ thể. Các nhà nghiên cứu phát hiện thấy nấm Malassezia trên mọi bề mặt da của những người tình nguyện khỏe mạnh, dù là ở sau đầu, sau các tai, trong lỗ mũi hay trên các gót chân. Gót chân cũng là nơi cư trú cho nhiều loài nấm khác, trong đó có chi Aspergillus, Cryptococcus, Rhodotorula và Epicoccum.


“Phương pháp nhận dạng dựa trên trình tự của chuỗi DNA cho phép chúng tôi phân biệt giữa các loài nấm khác nhau và kết luận rằng sự đa dạng của nấm phụ thuộc nhiều vào các vị trí trên cơ thể chứ không phụ thuộc vào cơ thể người lấy mẫu”, tiến sĩ Kong cho biết. Là một bác sĩ da liễu, tiến sĩ Kong giải thích lý do tại sao những vị trí này được chọn để nghiên cứu: “Nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào các vùng da nơi mà chúng ta thường thấy bệnh về da có liên quan đến nấm”.


Vị trí phức tạp nhất, gót chân, là nơi cư trú của khoảng 80 chi nấm. Các nhà nghiên cứu nhận thấy 60 loại trong các mẫu tăm bông lấy từ móng chân và 40 loại từ các da kẽ chân. Các vị trí khác có tính đa dạng của nấm cao là bên trong khuỷu tay, bên trong cánh tay và lòng bàn tay, với mỗi vị trí có 18 đến 32 chi nấm. Thật ngạc nhiên là các vị trí như đầu và thân - gồm cả lưng, sau cổ, bên trong tai, phía sau tai và giữa các lông mày - có ít loại nấm hơn nhiều, với chỉ khoảng 10 chi.


Nhóm nghiên cứu đã so sánh dữ liệu đa dạng nấm với các vi khuẩn da trên cùng những người trưởng thành khỏe mạnh. Họ phát hiện thấy trong khi các cánh tay chứa nhiều vi khuẩn lại có tính đa dạng về nấm thấp. Họ nhận thấy điều ngược lại là đúng cho các vị trí trên chân. Các vị trí trung tâm của cơ thể không có tính đa dạng vi khuẩn cũng như nấm cao. Các nhà nghiên cứu đã từng chỉ ra rằng sự đa dạng của vi khuẩn trên cơ thể người có thể được dự đoán bởi cả tính chất của da là ẩm, khô hay da dầu. Thay vào đó, đa dạng nấm dường như phụ thuộc vào vị trí trên cơ thể người.


Họ đã quan sát, thêm vào đó, rằng có sự tương đồng lớn hơn trong cấu trúc quần thể nấm ở phía bên trái và bên phải của cùng một người so với các bộ phận cơ thể khác nhau trên bất kỳ hai người khác nhau. Quần thể nấm cũng có vẻ khá ổn định theo thời gian, có rất ít thay đổi giữa hai lần thử nghiệm riêng biệt cách nhau 3 tháng.

.

"Các dữ liệu từ nghiên cứu của chúng tôi cho chúng ta một cơ sở về các cá nhân bình thường mà chúng ta chưa từng có trước đây", Tiến sĩ Segre cho biết. "Điểm mấu chốt là bàn chân của bạn chứa đầy nấm, vì vậy hãy nhón chân trong phòng thay đồ nếu bạn không muốn trộn lẫn nấm chân của bạn với nấm chân của một ai đó”.







via khoahoc.com.vn - Đời sống - Y học - Cuộc sống - Rss - Các bài viết mới nhất http://www.khoahoc.com.vn/doisong/yhoc/suc-khoe/46633_Phat-hien-noi-nam-co-tinh-da-dang-lon-nhat-tren-da-nguoi.aspx
Share:

Học sinh châu Phi hoảng loạn vì "sinh vật hình nhân"


Các giáo viên tại một trường học ở Botswana buộc phải ngừng dạy sau khi nhiều học sinh thấy "một sinh vật đầy lông hình người" vào ngày 24/5.


Học sinh châu Phi hoảng loạn vì sinh vật hình nhân

Ảnh minh họa: umn.edu.


Sự việc xảy ra tại trường tiểu học Mathiba tại thành phố Maun, Botswana vào khoảng 12h trưa hôm 24/5 theo giờ địa phương. Ông Acro Maseko, giám đốc Cơ quan Giáo dục và Phát triển kỹ năng của thành phố, kể rằng nhiều học sinh lớp 6 và 7 thấy một sinh vật với lớp lông màu đen trên cơ thể. Sinh vật đó có hình dạng rất giống người song kích thước cơ thể nhỏ hơn, The Voice đưa tin.


Hàng chục học sinh rơi vào tình trạng hoảng loạn và chạy khỏi phòng học khiến những học sinh còn lại không thể tập trung tâm trí cho việc học. Giáo viên phải đưa 10 em tới trạm y tế của trường để điều trị. Sau đó ban giám hiệu nhà trường quyết định cho học sinh nghỉ học và về nhà.


"Chúng tôi đã yêu cầu các chuyên gia trợ giúp để tìm hiểu sự việc", ông Maseko nói.


Vị giám đốc nói thêm rằng sự việc xảy ra khi các học sinh lớp 7 của trường chuẩn bị thi học kỳ. Vì thế, rất có thể trạng thái căng thẳng do ôn thi khiến các em gặp ảo giác. Theo ông, những sự cố tương tự từng xảy ra tại trường trong quá khứ.







Đăng ký:
Share:

Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2013

Magie quan trọng với xương trẻ em hơn canxi

@NguonTinViet.Com


Trong một thời gian dài, các bác sĩ nhi khoa thường khuyên các bậc cha mẹ nên cho con cái thường xuyên uống sữa và ăn các thực phẩm có chứa canxi để ngăn ngừa các bệnh về xương. Tuy nhiên, những nghiên cứu mới cho thấy, magie thậm chí còn quan trọng hơn cả canxi.


Theo báo The Daily Mail một nghiên cứu mới cho biết, hạt bí, socola đen, hạnh nhân và cá hồi cũng quan trọng trong khẩu phần ăn uống của trẻ em.


Magie quan trọng với xương trẻ em hơn canxi


Đó là những thực phẩm rất giàu magie, nguyên tố rất cần thiết để xây dựng xương, theo Steven Abrams, giáo sư nhi khoa tại Đại học Y Baylor (Mỹ). Ông khẳng định Magie quan trọng hơn canxi, không như điều mà người ta thường ngộ nhận.


Trong thực tế, vai trò của magie đã được chứng minh ở người lớn tuổi. Song đối với trẻ em thì đây là một nghiên cứu đầu tiên. GS Abrams và các đồng nghiệp đã phân tích tình trạng sức khoẻ của 63 em hoàn toàn khỏe mạnh từ 4 đến 8 tuổi (họ không bổ sung thêm chất hoạt tính sinh học nào vào chế độ ăn uống bình thường).


Các nhà y học đã tính toán chính xác nồng độ canxi và magie trong thực đơn của các em và cơ thể của chúng. Mẫu nước tiểu của chúng được mang xét nghiệm thành phần hoá học (nồng độ các đồng vị bền trong các chất khoáng sẽ cho thấy cơ thể đã hấp thụ bao nhiêu canxi và magie).


Kết quả phân tích nồng độ các chất khoáng trong thức ăn và nồng độ của chúng mà xương hấp thụ được xác định bằng phương pháp hấp thụ tia Rơnghen. Chúng cho phép đi đến kết luận là chính magie mới đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các mô xương. Trong khi đó, canxi không thấy thể hiện một tác động nào.







via khoahoc.com.vn - Đời sống - Y học - Cuộc sống - Rss - Các bài viết mới nhất http://www.khoahoc.com.vn/doisong/yhoc/suc-khoe/46706_Magie-quan-trong-voi-xuong-tre-em-hon-canxi.aspx
Share:

UFO xuất hiện trên nông trại


Một vật thể bay không xác định (UFO) xuất hiện phía trên một nông trại ở Mỹ hồi đầu tháng 5.


Hôm 7/5, bà Ellen Henry, một thành viên của Hiệp hội Lịch sử Santee tại thành phố Santee, hạt San Diego, bang California, chụp ảnh một tòa nhà trong nông trại Edgemoor Barn, một công trình có giá trị lịch sử.


"Hôm ấy tôi tới nông trại Edgemoor vào buổi trưa để chụp ảnh tòa nhà. Khi đó tôi không thấy bất kỳ thứ gì trên trời và cũng chẳng nghe thấy âm thanh của máy bay", Ellen kể.


UFO xuất hiện ở nông trại

UFO xuất hiện ở bên trái, phía trên các cây trong bức ảnh mà bà Ellen Henry chụp ở nông trại Edgemoor Barn hôm 7/5. (Ảnh: Huffington Post)


Vài ngày sau Ellen tải bức ảnh lên máy tính để xem và bà thấy một vật lạ trong ảnh. Vật thể đó giống chiếc đĩa và bay ở phía trên nông trại, Huffington Post đưa tin.


Nhiều người cho rằng vật thể trong ảnh của Ellen là một máy bay.


"Nông trại nằm bên dưới nhiều đường bay thương mại. Chúng tôi đã gọi một số cơ quan hữu trách, song họ không thể giải thích", Janet Kwak, biên tập viên của kênh truyền hình 10News, thông báo.


Ellen khẳng định vật thể trong ảnh không thể là máy bay thương mại, bởi vật thể xuất hiện ở vị trí khá thấp, trong khi Ellen không hề nghe thấy bất kỳ tiếng động cơ máy bay nào.


"Một số người nói nó là máy bay tự động, nhưng tôi chưa thấy máy bay tự động nào có hình tròn hay oval. Ngoài ra vật thể này còn không có cánh như các máy bay tự động", bà giải thích.


Một điều bất thường nữa đã xảy ra. Ellen kể rằng ngay sau khi bà chụp bức ảnh, camera của bà đã ngừng hoạt động.







Đăng ký:
Share:

Phát hiện protein giúp chống ung thư vú

@NguonTinViet.Com


Các tế bào ung thư vú giải phóng ra một loại protein bảo vệ, có khả năng ức chế sự phát triển của khối u, theo một nghiên cứu mới. Khám phá này có thể giúp phát triển những loại thuốc hoặc chế độ dinh dưỡng nhằm tăng sự sản sinh các protein "tốt" này.


Theo nghiên cứu mới của các nhà khoa học Anh, một enzym (chất xúc tác sinh học có thành phần cơ bản là protein) có tên gọi là matrix metalloproteinase-8 (MMP-8) kích thích hệ miễn dịch chống lại căn bệnh ung thư vú.


Giáo sư Dylan Edwards, nhà sinh vật học thuộc Đại học East Anglia (Anh), cho biết: "MMP là một họ enzym do các tế bào ung thư phóng thích. Chúng từng được cho là đóng vai trò như "những chiếc kéo phân tử", chuyên cắt đứt ở các cấu trúc vật liệu bên ngoài tế bào và dọn đường cho các tế bào ung thư xâm chiếm và lan truyền tới những bộ phận khác.


Phát hiện protein giúp chống ung thư vú

Enzym MMP-8 do các tế bào ung thư vú sản sinh có khả năng ức chế sự phát triển của khối u. (Ảnh minh họa: Corbis)


Các loại thuốc tấn công họ enzym rộng lớn này từng được thử nghiệm chống ung thư trong những năm 1990 nhưng gần như thất bại. Điều đó khiến chúng tôi nghĩ rằng không phải tất cả các enzym thuộc họ này là những phần tử xấu, chuyên tạo điều kiện cho sự phát triển và lây lan của ung thư".


Ông Edwards lý giải thêm rằng, vấn đề với các loại thuốc trước đây là chúng đã tiêu diệt cả những "phần tử tốt""phần tử xấu". Các công ty dược hiện đang nghiên cứu bào chế những loại thuốc thế hệ thứ 2 và thứ 3 có tính chọn lọc hơn. Một triển vọng nữa là phát triển các loại thuốc hoặc thực phẩm tăng cường họ enzym MMP.


"Hiện có nhiều lĩnh vực thú vị để khám phá, kể cả việc kiểm tra các bệnh nhân ung thư vú để tìm hiểu về số lượng enzym MMP do các khối u của họ sản sinh ra", ông Edwards nhấn mạnh.


Một nghiên cứu công bố cách đây 5 năm lần đầu tiên hé lộ, enzym MMP-8 ức chế sự phát triển của các khối u. Các bệnh nhân mắc ung thư vú nếu có nhiều enzym này hơn sẽ có tình trạng bệnh được cải thiện tốt hơn.


Nghiên cứu sinh tiến sĩ Sally Thirkettle dưới sự hướng dẫn của giáo sư Edwards và các đồng nghiệp đã tiến hành xem xét chi tiết các dạng enzym MMP ở những khối u ung thư vú. Cô Thirkettle đã chứng minh rằng, nếu tác động làm các tế bào ung thư sản sinh MMP-8, enzym này sẽ khiến chúng sản sinh ra 2 yếu tố viêm nhiễm khác, từng được phát hiện khuyến khích ung thư. Tuy nhiên, các tế bào khối u vú sản sinh quá nhiều MMP-8 không thể sống sót dài hạn do enzym này ngăn chặn chúng phát triển.


Các nhà nghiên cứu nhận định, MMP-8 đóng vai trò như một dạng tín hiệu cầu cứu tới hệ miễn dịch, sau đó lại được hệ miễn dịch kích hoạt để tấn công khối u. Điều này có thể giúp giải thích chức năng bảo vệ của MMP-8.







via khoahoc.com.vn - Đời sống - Y học - Cuộc sống - Rss - Các bài viết mới nhất http://www.khoahoc.com.vn/doisong/yhoc/suc-khoe/46703_Phat-hien-protein-giup-chong-ung-thu-vu.aspx
Share:

Mỹ phát triển "lá lách nhân tạo"

@NguonTinViet.Com


Chức năng của lá lách là lọc máu. Tuy nhiên, khi chúng ta bệnh nặng hoặc bị chấn thương, lá lách đôi khi không đủ sức để loại bỏ các độc tố ra khỏi dòng máu như bình thường, hậu quả là gây nhiễm trùng máu.


Mỹ phát triển "lá lách nhân tạo"


Để ngăn chặn tình trạng này, các nhà khoa học tại Học viện ứng dụng Sinh học Sáng tạo Wyss thuộc Đại học Harvard (Mỹ) đã phát triển loại thiết bị có chức năng lọc máu giống như lá lách.


Quá trình bắt đầu khi máu của bệnh nhân được đưa qua thiết bị để hòa vào các phân tử nano có từ tính. Những phân tử này được bao bọc bởi lớp protein trong máu tên là opsonin, đã được biến đổi gene với khả năng bám chặt các tác nhân gây bệnh như vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, nấm và chất độc. Hỗn hợp máu và các phân tử nano nói trên sau đó chảy qua một loạt các ống dẫn mà ở đó, các nam châm đang chờ sẵn để "hút" các hạt nano cùng mầm bệnh ra khỏi máu, trong khi phần máu sạch được đưa trở lại cơ thể bệnh nhân. Điểm đặc biệt là trong quá trình lọc máu, bệnh nhân không cần sử dụng thuốc chống đông máu bởi bề mặt bên trong các ống dẫn được phủ một lớp vật liệu siêu kỵ nước gọi là SLIPS, cũng do các chuyên gia Đại học Harvard phát triển.


Nhóm học giả cho biết, họ đang lên kế hoạch để tiến hành thử nghiệm trên các loài động vật lớn trước khi áp dụng trên người. Được biết, Học viện Wyss vừa tiếp nhận một hợp đồng trị giá 9,25 triệu USD từ Cơ quan quản lý các dự án nghiên cứu quốc phòng tiên tiến (DARPA) thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ để phát triển hoàn chỉnh "lá lách nhân tạo" (spleen-on-a-chip), nhằm phục vụ công tác trị thương cho binh lính Mỹ trong tương lai.







via khoahoc.com.vn - Đời sống - Y học - Cuộc sống - Rss - Các bài viết mới nhất http://www.khoahoc.com.vn/doisong/yhoc/suc-khoe/46696_My-phat-trien-la-lach-nhan-tao.aspx
Share:

Thứ Sáu, 24 tháng 5, 2013

Virus cúm H7N9 có thể lây từ người sang người

@NguonTinViet.Com


"Trong điều kiện thuận lợi virus H7N9 có thể lây truyền từ người sang người", báo cáo của các nhà nghiên cứu nêu kết luận.


Virus cúm H7N9 có thể lây từ người sang người


Chủng virus cúm H7N9, còn gọi là "cúm gia cầm", có thể lây truyền từ động vật có vú, và do đó có thể truyền từ người này sang người khác. Đó là tin đưa của AFP dẫn nguồn từ báo cáo của các nhà khoa học Trung Quốc. Trong phạm vi các cuộc thí nghiệm, các nhà nghiên cứu từ Đại học Tổng hợp Hong Kong và Sán Đầu đã xác định được cơ chế lây truyền virus trong nhóm các con chồn. Trước đây từng cho rằng khâu lây nhiễm đầu tiên là các loài chim, tuy nhiên không ghi nhận trường hợp nào lây truyền giữa các động vật có vú.


"Trong điều kiện thuận lợi virus H7N9 có thể lây truyền từ người sang người", báo cáo của các nhà nghiên cứu nêu kết luận.


Do kết quả lây lan tại một số tỉnh vùng trung tâm và miền đông Trung Quốc số người nhiễm virus cúm H7N9 là 131 người, trong đó 36 bệnh nhân đã tử vong. Các nhà nghiên cứu cho biết họ sẽ tiếp tục công việc để xác định cơ chế của việc lây nhiễm, vì e ngại có xác suất bùng nổ đại dịch đáng sợ.







via khoahoc.com.vn - Đời sống - Y học - Cuộc sống - Rss - Các bài viết mới nhất http://www.khoahoc.com.vn/doisong/yhoc/dich-cum/46691_Virus-cum-H7N9-co-the-lay-tu-nguoi-sang-nguoi.aspx
Share:

Chú gà “khổng lồ” ở Anh

@

Với chiều cao ấn tượng 66cm, chú gà Little John ở Anh được xem là chú gà "khủng" chọi nhất trên thế giới hiện nay.


Chủ nhân của chú gà Little John là anh Jeremy Goldsmith, sống ở ngôi làng Stansted, hạt Essex, phía đông nước Anh. Với vẻ bề ngoài “khổng lồ”, Little John luôn làm cho những đứa bé trong làng sợ hãi.




Little John mới chỉ hơn 1 năm tuổi, rất thích ăn bỏng ngô. Nó luôn chăm chỉ nhặt nhạnh những mẩu bánh kẹo, đồ ăn rơi vãi trên mặt đất của những du khách khi đến ngôi làng để lại.


Anh Jeremy Goldsmith (45 tuổi) chia sẻ: “Trong trang trại của chúng tôi, Little John là con gà to lớn hơn bất kỳ con gà nào. Tôi cho rằng nó to lớn như vậy là vì được chăm sóc cẩn thận”.


Hiện một chú gà chọi tên gọi Melvin được xem là con gà cao lớn nhất thế giới, với chiều cao 60cm.


Một đại diện kỷ lục Guinness khẳng định: “Nếu kích thước của Little John được xác nhận thì nó chắc chắn sẽ nắm giữ kỷ lục Guinness chú gà chọi cao nhất thế giới”.


%3Cbr%3E%3Cbr%3Evia%20khoahoc.com.vn - Khám phá - Thế giới động vật - Rss - Các bài viết mới nhất%20http://www.khoahoc.com.vn/khampha/the-gioi-dong-vat/46689_Chu-ga-khong-lo-o-Anh.aspx">
Share:

Tinh chế thành công bột gỗ chất lượng cao của Việt Nam


Các nhà khoa học Việt Nam tinh chế thành công bột gỗ Việt Nam có chất lượng gần như bột gỗ Canada với giá thành thấp hơn, có khả năng thay thế bột gỗ Canada làm nguyên liệu điều chế Nitroxenlulo.


Đây là kết quả nổi bật của đề tài “Nghiên cứu sử dụng nguồn xenlulo gỗ Việt Nam dùng để điều chế Nitroxenlulo cho sản xuất thuốc phóng thay thế bột gỗ nhập ngoại” do tiến sỹ Phan Đức Nhân và nhóm nghiên cứu trẻ thuộc Bộ môn Thuốc phóng thuốc nổ, Khoa Vũ khí, Học viện Kỹ thuật Quân sự thực hiện.


Theo tiến sỹ Phan Đức Nhân, việc nghiên cứu tinh chế xenlulo gỗ đạt các yêu cầu kỹ thuật dùng làm nguyên liệu điều chế Nitroxenlulo cho sản xuất thuốc phóng trong quy mô phòng thí nghiệm đã được nhóm quan tâm tìm hiểu từ đầu năm 2010.


Tinh chế thành công bột gỗ chất lượng cao của VN


Kết quả nghiên cứu đã khẳng định bằng nội lực trong nước hoàn toàn có thể tinh chế xenlulo gỗ Việt Nam thành sản phẩm đạt các yêu cầu kỹ thuật đối với bột gỗ dùng để sản xuất Nitroxenlulo thay thế bột gỗ nhập ngoại. Từ kết quả trên, nhóm đã đề xuất và được Bộ Khoa học và Công nghệ giao nhiệm vụ thực hiện đề tài trên.


Tiến sỹ Phan Đức Nhân cho biết, NC được điều chế bằng cách nitro hóa nguyên liệu xenlulo đã tinh chế (bông, gỗ…) và được sử dụng khá phổ biến trong dân sự và quân sự như dùng chế tạo thuốc phóng, chất kết dính, chất tạo màng…


Nguyên liệu xenlulo dùng để điều chế Nitroxenlulo cho sản xuất thuốc phóng yêu cầu chất lượng cao như hàm lượng α-xenlulo trên 92% đối với bột gỗ và trên 96% đối với bông, các chỉ tiêu chất lượng khác rất chặt chẽ.


Hiện nay, để sản xuất mác Nitroxenlulo, Việt Nam đang phải sử dụng nguồn nguyên liệu xenlulo đã tinh chế và đều nhập ngoại như bột gỗ Canada và Mỹ, bông Trung Quốc…


“Bột gỗ tinh chế của Việt Nam sau khi được gửi đi phân tích chất lượng và chụp phổ theo các phương pháp tiêu chuẩn trên Phòng KCS, Nhà máy Z195 và Trung tâm Kỹ thuật Vũ khí, Học viện Kỹ thuật Quân sự đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật đối với bột gỗ đưa vào nitro hóa để điều chế Nitroxenlulo, có chất lượng tương đương với bột gỗ Canada và có giá thành thấp hơn", tiến sỹ Phan Đức Nhân vui mừng chia sẻ.


Ông Nhân cho biết thêm hiện nay nhóm đã đề nghị cơ quan chức năng các cấp cho phép mở đề tài ở cấp cao hơn nhằm nghiên cứu hoàn thiện các chế độ công nghệ tinh chế bột gỗ nhà máy giấy, sử dụng bột gỗ tinh chế để chế tạo mác Nitroxenlulo, chế thử thuốc phóng ở quy mô nhà máy để có thể ứng dụng và chuyển giao các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất Nitroxenlulo và thuốc phóng, từng bước tiến tới thay thế hoàn toàn bột gỗ Canada nhập ngoại.







Đăng ký: Bài đăng (Atom)
Share:

Money doesn't grow on trees


Phật tử cài tiền lên cây nhân ngày Phật Đản taiij Thái Lan. Ảnh: Reuters/Damir Sagolj.

Phật tử cài tiền lên cây nhân ngày Phật Đản taiij Thái Lan. Ảnh: Reuters/Damir Sagolj.



Money doesn't grow on trees có nghĩa là không được tiêu quá nhiều tiền vì chỉ có một lượng nhất định mà thôi. Tương đương trong tiếng Việt, có thể nói "tiền không phải là vỏ hến"!


Ví dụ:


My daughter Claire wants a car for her 17th birthday, but I can't afford it. Money doesn't grow on trees!


"Mum, can you give me some more pocket money?"

"No I can't – money doesn't grow on trees, you know."


Xin lưu ý


Cụm từ money is no object có nghĩa là bạn có rất nhiều tiền, có thể chi tiêu thoải mái, không cần tính toán. Tiền không phải là trở ngại.


Ví dụ:


He lives in a mansion, has three sports cars and goes on holiday every month. Money is no object for him.


Thực tế thú vị


Bạn có thể thấy các "cây tiền" của các tín đồ Phật giáo ở Thái Lan. Cây tiền thường là một phần của lễ hội đánh dấu Vesak Day, tức ngày Phật đản.







RSS: Subribe BBC English newsletter
Share:

Con người có thể tái sinh chân, tay đã mất

@NguonTinViet.Com


Một phát hiện mới của các nhà khoa học trong cơ thể kỳ giông có thể giúp con người tìm ra liệu pháp phục hồi những chân, tay cụt.


Nếu chân hay dây thần kinh cột sống của kỳ giông đứt, chúng có thể phục hồi nhờ khả năng đặc biệt của hệ miễn dịch. Thậm chí chúng còn có thể phục hồi các mô não hay mô tim.


Con người có thể tái sinh chân, tay đã mất

Phát hiện của các nhà khoa học tại Đại học Monash mang đến hy vọng cho những người mất chân, tay. (Ảnh: nydailynews.com)


Để tìm hiểu khả năng tái sinh các bộ phận cơ thể của kỳ giông, một nhóm chuyên gia của Đại học Monash tại Australia đã phân tích hệ miễn dịch của chúng. Họ chú ý tới macrophage - một loại tế bào miễn dịch, Science Daily đưa tin. Khi nhóm nghiên cứu loại bỏ macrophage, những chi bị đứt của kỳ giông không thể phục hồi. Thực tế đó cho thấy macrophage chính là loại tế bào giúp kỳ giông phục hồi những bộ phận cơ thể đã mất.


"Phát hiện của chúng tôi giúp giới khoa học hiểu rõ hơn những điều kiện cần thiết cho việc tái tạo bộ phận cơ thể. Chúng ta có thể kiểm soát quá trình ấy và thậm chí có thể đưa nó vào cơ thể người", tiến sĩ James Godwin, trưởng nhóm nghiên cứu, phát biểu.


Ngoài ra, theo Godwin, việc nghiên cứu khả năng tái sinh của kỳ giông có thể giúp các nhà khoa học tìm ra những liệu pháp mới để điều trị bệnh tim, bệnh thận, tổn thương dây thần kinh và nhiều bệnh khác.


Một số nghiên cứu trước đây cho thấy nhiều loài động vật có khả năng phục hồi các chi bị đứt. Nhưng dần dần khả năng ấy biến mất trong quá trình tiến hóa.


"Rất có thể khả năng tái sinh vẫn ẩn nấp trong cơ thể người. Chúng tôi hy vọng các nhà khoa học sẽ đánh thức khả năng ấy. Họ cần biết chính xác quá trình tái sinh trong cơ thể kỳ giông để có thể tạo ra những liệu pháp tái sinh dành cho người", Godwin bình luận.







via khoahoc.com.vn - Đời sống - Y học - Cuộc sống - Rss - Các bài viết mới nhất http://www.khoahoc.com.vn/doisong/yhoc/suc-khoe/46678_Con-nguoi-co-the-tai-sinh-chan-tay-da-mat.aspx
Share:

Bài viết ngoài

  • Thanh lý salon cũ và kệ sắt - Thanh lý 2 món : Salon cũ: Như hình, gồm 5 ghế dựa ghép , 1 bàn, 1 đôn, 2 ghế bệt . Chân gổ, bọc nệm . Mình muốn mua bộ mới nên thanh lý giá 500K ch...
    1 năm trước
  • Excel tip - 10 hàm chức năng đơn giản nhưng mạnh mẽ của Excel =SUM() Đây có thể nói là hàm đầu tiên mà bất kỳ người dùng nào mới học Excel cũng cần phải biết đến. Gi...
    3 năm trước

Dịch

Bài Cũ

Nguon Tin Viet